Tháng 09, 2019
Thứ hai
Thứ Sáu, ngày 05/06/2020 11:57 AM (GMT+7)

Người tiên phong nghiên cứu biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Từ một cán bộ sơ cấp của ngành khí tượng thuỷ văn trở thành Viện trưởng của Viện Khí tượng Thuỷ văn, dấu chân của GS Nguyễn Trọng Hiệu đã đặt đến khắp mọi nơi ở miền Bắc, kể cả những nơi bom Mỹ đánh phá ác liệt để nghiên cứu về đặc điểm khí hậu các địa phương.

Tiên phong trong nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Từ giữa những năm 1980, khi đất nước còn đang ở trong cuộc khủng hoảng về kinh tế-xã hội, đời sống nhân dân nói chung vô cùng khó khăn, việc nghiên cứu của các nhà khoa học cũng gặp rất nhiều gian nan thì Phó Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hiệu đã bắt đầu tìm hiểu về biến đổi khí hậu, trong khi nhà nước và các nhà khoa học còn chưa để ý tới khái niệm này.

Người tiên phong nghiên cứu biến đổi khí hậu ở Việt Nam - 1

GS Nguyễn Trọng Hiệu, nguyên Viện trưởng Viện Khí tượng Thủy văn.

Năm 1990, ông được Tổng cục Khí tượng Thủy văn cử tham dự phiên họp thứ hai của tổ chức IPCC (Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu) diễn ra tại Thụy Điển. Qua sự kiện ấy, ông bắt đầu quá trình tìm hiểu ngọn nguồn của biến đổi khí hậu và những biểu hiện biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

Mọi vấn đề về biến đổi khí hậu lúc đó Nhà nước chỉ giao cho Tổng cục Khí tượng Thủy văn. Tổng cục giao cho Viện Khí tượng thủy văn, Viện lại giao cho phòng Nghiên cứu khí hậu làm. PTS Nguyễn Trọng Hiệu chịu trách nhiệm báo cáo tại Tổng cục những vấn đề về biến đổi khí hậu, giải thích thế nào là biến đổi khí hậu, nguyên nhân biến đổi, biểu hiện, những hoạt động biến đổi khí hậu. Cụ thể hơn, ông được giao làm rõ những biểu hiện biến đổi khí hậu ở Việt Nam và những giải pháp, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cũng như những giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

Sau cuộc họp ở Thụy Điển, GS Nguyễn Trọng Hiệu cùng với GS Nguyễn Đức Ngữ (Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn) công bố bài viết “A review of climate change in Vietnam during the last 100 years” (Proceeding of the Asian-Pacific seminar on climate change, Japan, March 1991). Đây cũng là nghiên cứu, công bố đầu tiên của các nhà khoa học Việt Nam về vấn đề biến đổi khí hậu.

Bài viết đề cập đến những biểu hiện của biến đổi khí hậu, bao gồm: nhiệt độ tăng, lượng mưa giảm, nước biển dâng. GS Nguyễn Trọng Hiệu chia sẻ về bài viết đó: “Nó là thông tin đầu tiên của Việt Nam về biến đổi khí hậu. Hồi đó chưa ai biết về biến đổi khí hậu, cũng không ai hiểu thế nào là biến đổi khí hậu, nguyên nhân của biến đổi khí hậu. Những thứ đó với người Việt Nam là điều mới lạ. Bài báo của tôi đã nêu lên điều đó”[1].

Không chỉ dừng lại ở đó, năm 1992, GS Nguyễn Trọng Hiệu được giao soạn thảo báo cáo “Some features of potential climate change and its impacts in Vietnam” (Một vài biểu hiện của biến đổi khí hậu tiềm tàng và tác động của nó ở Việt Nam) cho phái đoàn Việt Nam (do Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh dẫn đầu) dự hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về môi trường diễn ra tại Brasil để chuẩn bị cho ra đời công ước quốc tế về biến đổi khí hậu.

Báo cáo do ông soạn thảo nêu bốn vấn đề: biểu hiện của biến đổi khí hậu; tác động của biến đổi khí hậu; các dạng biến đổi khí hậu; tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam và các giải pháp của nó… GS Nguyễn Trọng Hiệu nhớ lại: “Lúc đầu chúng tôi viết, sau đó anh Hoàng Mạnh Hòa hiệu đính tiếng Pháp, anh Phạm Đình An hiệu đính tiếng Anh. Chúng tôi cho rằng đấy là văn bản đầu tiên chúng tôi trình ra quốc tế về biến đổi khí hậu”[2].

Việc nói lên tiếng nói, quan điểm của mình, các nhà khoa học đã khiến quốc tế biết đến Việt Nam và vai trò của của Việt Nam trong công cuộc chống lại sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

Nhưng phải từ năm 1994 mới bắt đầu có tài trợ của các tổ chức quốc tế để phổ biến vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Dự án đầu tiên được tài trợ là nhằm huấn luyện biến đổi khí hậu do tổ chức Khí tượng Thế giới thực hiện.

Các nhà chuyên môn cho rằng việc đầu tiên của Việt Nam là bắt đầu huấn luyện về biến đổi khí hậu. Điều đó hoàn toàn chính xác vì bắt đầu của mọi sự kiện đều là nhận thức. Cuối năm 1994, dự án đầu tiên của Ngân hàng Châu Á về biến đổi khí hậu được dành cho Việt Nam, gọi là Dự án biến đổi khí hậu Châu Á. Dự án này, Ngân hàng Châu Á (ADB) tài trợ cho cơ quan chính là Bộ Thủy lợi mà GS Nguyễn Trọng Hiệu là một trong những thành viên tham gia dự án này.

Theo ông, Ngân hàng Châu Á tài trợ thì họ yêu cầu Việt Nam thực hiện tất cả mọi vấn đề giống như của các nước khác, bắt đầu từ phát thải, kiểm kê quốc gia khí nhà kính, xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, đánh giá biến đổi khí hậu. GS Nguyễn Trọng Hiệu được giao chịu trách nhiệm về vấn đề xây dựng kịch bản khí nhà kính.

Với việc tham gia dự án này, ông và đồng nghiệp tiến hành kiểm kê quốc gia khí nhà kính cho ba chất chủ yếu là CO2, Metan, Oxit nitơ, sau đó xây dựng kịch bản. “Kịch bản hồi đó còn làm đơn sơ nhưng dù sao là kịch bản đầu tiên của Việt Nam về biến đổi khí hậu”, GS Nguyễn Trọng Hiệu chia sẻ.

Để làm được kịch bản đó, GS Nguyễn Trọng Hiệu và đồng nghiệp phải tính toán, kiểm kê khí nhà kính, đọc các tài liệu về kịch bản, phương pháp làm của những nước đi trước. Sau dự án, ADB đã xuất bản tài liệu về biến đổi khí hậu Châu Á, Việt Nam cũng được phát một số bộ tài liệu về vấn đề này.

GS Nguyễn Trọng Hiệu cũng tham gia dự án nghiên cứu chi phí thấp nhất cho việc giảm phát thải khí nhà kính ở Châu Á. Thành quả của dự án là đã xây dựng được phương pháp để giảm phát thải khí nhà kính.

Bên cạnh đó, GS Nguyễn Trọng Hiệu cũng là người được giao nhiệm vụ soạn thảo thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam về biến đổi khí hậu. Thông báo này được thực hiện từ năm 1998, đến năm 2000 thì hoàn thành và năm 2003 thì đệ trình lên Công ước quốc tế về biến đổi khí hậu. Ông chia sẻ: “Tôi là một trong những người đầu tiên xin tài trợ, chuẩn bị những công cụ đầu tiên, lập đề án, đề cương và viết thông báo quốc gia lần thứ nhất về biến đổi khí hậu”[3].

Ông cho biết thêm về thông báo quốc gia này: “Thông báo phải đề cập đến điều kiện tự nhiên xã hội của một quốc gia; phải trình cho thế giới biết kiểm kê khí nhà kính như thế nào; phải đưa ra được các phương án giảm phát thải khí nhà kính; đưa ra các phương án thích ứng với biến đổi khí hậu. Đó là bốn nội dung bắt buộc của một thông báo quốc gia. Chúng ta đã làm trọn vẹn 4 phần này trong thông báo đầu tiên”[4].

Năm 1997, ông cùng với một số đồng nghiệp tham gia hội nghị ở Kyoto để ký Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính. Nghị định đó quy định các nước phải giảm phát thải khí nhà kính so với năm 1990 là bao nhiêu.

Phái đoàn Việt Nam tham dự hội nghị này do GS Nguyễn Đức Ngữ là trưởng đoàn cùng hai thành viên là Phạm Đình An và GS Nguyễn Trọng Hiệu. Bên lề hội nghị, GS Nguyễn Trọng Hiệu trình bày những thành quả của Việt Nam trong việc thực hiện công ước, trong đó có việc đánh giá biểu hiện biến đổi khí hậu ở Việt Nam, kiểm kê khí nhà kính, kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam và các giải pháp ứng phó.

Hội nghị Kyoto là một trong những cố gắng đáng kể của các nước, điển hình là Nhật Bản, các nước Châu Âu và Mỹ, trong đó có Việt Nam. Đó cũng là sự nỗ lực không biết mệt mỏi của những người như GS Nguyễn Trọng Hiệu, GS Nguyễn Đức Ngữ về một vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam.

Khi xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu và thông báo quốc gia lần thứ nhất về biến đổi khí hậu ở Việt Nam, GS Nguyễn Trọng Hiệu và đồng nghiệp chỉ làm theo phương pháp thống kê, chưa có điều kiện để ứng dụng những thành tựu của máy tính. Đến thông báo quốc gia lần thứ 2 (2008) thì Việt Nam xây dựng kịch bản không chỉ bằng phương pháp thống kê mà sử dụng các thành tựu tính toán của máy tính.

Những thành tựu của nước ta về biến đổi khí hậu từ trước đến nay được thế giới công nhận là tích cực và xứng tầm so với điều kiện của Việt Nam. Nói về vấn đề này, GS Nguyễn Trọng Hiệu chia sẻ: “Với phương tiện kỹ thuật còn hạn chế nhưng chúng tôi vẫn hoàn thành nhiệm vụ về nghiên cứu biến đổi khí hậu. Những thành quả của chúng tôi đến giờ vẫn được ghi nhận, tức là không chỉ đóng góp vào thời điểm ấy. Những dự án đầu tiên của Việt Nam cũng chính là chúng tôi. Đặc biệt là các báo cáo khoa học, những tài liệu biến đổi khí hậu mà chúng tôi đã làm vẫn là những cơ sở quan trọng nhất. Cho đến giờ không ai phủ nhận những trình độ, thuật ngữ, lý thuyết về biến đổi khí hậu đều do chúng tôi thực hiện. Chúng tôi đã làm tròn phận sự của những người ở giai đoạn đầu và những người sau này vẫn tôn trọng, coi chúng tôi là những thành viên tích cực”[5].

Liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu, GS Nguyễn Trọng Hiệu đã dầy công nghiên cứu và cho xuất bản nhiều tài liệu liên quan: Biến đổi khí hậu (viết chung với GS Nguyễn Đức Ngữ), Nxb Khoa học kỹ thuật, 2007; Biến đổi khí hậu ở Việt Nam (viết chung với Phạm Thị Thanh Hương, Nguyễn Mạnh Cường), Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường xuất bản, 2009; Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam (viết chung với Nguyễn Văn Thắng, Trần Thục), Nxb Khoa học kỹ thuật, 2012.

GS Nguyễn Trọng Hiệu còn tham gia nhiều đề tài về biến đổi khí hậu như: Phó Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội” (mã số KC.08.13/06-10, 2007-2010); Tham gia đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến các yếu tố cực trị, hiện tượng cực đoan khí hậu” (mã số KC.08.29/06-10, 2008-2010)

Ngọn lửa đam mê khí tượng thuỷ văn

Đến với ngành khí tượng thuỷ văn từ khi còn là một thanh niên 17 tuổi, theo tháng năm, ngọn lửa đam mê ấy lớn dần trong Nguyễn Trọng Hiệu. Dù là một cán bộ sơ cấp, hay khi đã là một nhà khoa học thành danh, tình yêu của ông dành cho khoa học khí tượng thuỷ văn không bao giờ vơi.

Năm 1995, PGS Nguyễn Trọng Hiệu được cử làm Quyền Viện trưởng và giữ vai trò này đến năm 1997 thì được cử làm Viện trưởng Viện Khí tượng Thuỷ văn. Trên cương vị mới, ông càng có điều kiện để thực hiện những dự án khoa học của mình. Trong thời gian từ 1996 đến 2000, ông là Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa hoang mạc hóa cho khu vực Trung Trung bộ (Quảng Ngãi-Bình Định), mã số KC.08-01.

Người tiên phong nghiên cứu biến đổi khí hậu ở Việt Nam - 2

GS Nguyễn Trọng Hiệu được trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba (ảnh chụp năm 2017).

GS Nguyễn Trọng Hiệu cho biết, hoang mạc hóa biểu hiện chủ yếu là đất. Nguyên nhân của nó trước hết là tự nhiên, trong đó chủ yếu là nắng nóng, mưa. Nguyên nhân về kinh tế xã hội là do việc sử dụng nước, tiêu dùng không hợp lý. Đánh giá quá trình hoang mạc hóa ở Việt Nam, không thể không nhắc tới nguyên nhân về khí tượng thủy văn.

Khi khảo sát tại các địa phương, bất cứ nơi nào, ông đều chỉ đạo xây dựng mô hình trồng cây ở sa mạc. Ông chọn địa điểm Phù Mỹ, Phù Cát, là điểm cát hoàn toàn, không ai sinh sống để làm thí điểm. Lúc đầu là thí điểm vài ba mét, 5-7 mét, cuối cùng là 300 mét vuông.

Sau 4 năm nghiên cứu đề tài đã làm được mô hình trồng cây ở Phù Mỹ và ở Phù Cát. Người dân rất cảm động, cho rằng giữa nghiên cứu với cộng đồng là một chứ không phải là hai. Nghiên cứu có trách nhiệm phục vụ cộng đồng và cộng đồng phục vụ nghiên cứu. Sau khi nghiên cứu đề tài này, đề tài đã lập được bản đồ hoang mạc hóa của Bình Định, xây dựng thành công các mô hình trồng cây trên hoang mạc hóa, đưa ra các giải pháp cụ thể cho tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.

Giải pháp cho vấn đề hoang mạc hóa là phải chấn chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội. Trước hết phải trồng rừng, tổ chức lấn dần ở những vùng sa mạc này; phải đặc biệt tiết kiệm nước, phòng chống hạn hán. Theo ông Hiệu, chống hoang mạc hóa là phải có sự hợp lý hóa trong canh tác nông nghiệp, cả về trồng trọt và chăn thả. Đồng thời có sự phục hồi rừng một cách có tổ chức và có kế hoạch theo những phương châm cụ thể.

Trong quá trình thực hiện đề tài, GS Nguyễn Trọng Hiệu nhiều lần đến Quảng Ngãi và Bình Định. Ông cho biết: “Chúng tôi đến các địa phương thì người dân rất hân hoan. Người nông dân rất thực tế, anh đến làm việc với họ, họ sẵn sàng, nhưng khi về có để lại thành quả gì hay không mới là điều quan trọng. Tôi nghĩ rằng hai mô hình ở Phù Mỹ và Phù Cát chính là dấu vết mà chúng tôi đã để lại cho họ. Họ cho rằng đó là mẫu mực để phát triển cây trồng trên hoang mạc”.

Ngoài lăn lộn với thực tiễn và xử lý các vấn đề của cuộc sống, GS Nguyễn Trọng Hiệu cũng đặc biệt chú trọng việc viết sách, phục vụ cho giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Năm 2004, GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu kết hợp với GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ viết và xuất bản cuốn sách: Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật (tái bản năm 2013).

Đây cũng là cuốn sách mà ông tâm đắc nhất. Theo ông, việc nghiên cứu khí hậu Việt Nam nói chung và khí hậu các tỉnh nói riêng đã được Nhà nước quan tâm ngay từ sau khi miền Bắc được giải phóng (1954) và đã thu được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự nghiệp khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước.

Năm 1968, các tác giả là Nguyễn Xiển, Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc đã nghiên cứu, xuất bản cuốn sách “Đặc điểm khí hậu miền Bắc Việt Nam”. Việc khảo sát khí hậu địa phương cũng được tiến hành trong khoảng thời gian từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1970. Trên cơ sở đó, hàng loạt tài liệu về đặc điểm khí hậu tỉnh được nghiên cứu, biên soạn và xuất bản, đáp ứng yêu cầu quy hoạch, phát triển kinh tế của các địa phương.

Sau khi thống nhất đất nước (1975), việc khôi phục và phát triển mạng lưới trạm khí tượng, khí hậu ở miền Nam được tiến hành đồng thời với việc điều tra khảo sát khí hậu, trong đó đáng chú ý là khảo sát khí hậu Tây Nguyên. Việc đánh giá sơ bộ tài nguyên khí hậu Việt Nam được thực hiện vào những năm 1980, nhằm đáp ứng yêu cầu phân vùng, quy hoạch sản xuất và phân bố lực lượng sản xuất trong thời kỳ 1991-2000.

Cuốn sách “Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam” được biên soạn trên cơ sở phân tích chuỗi số liệu khí hậu cơ bản của mạng lưới trạm, bao gồm 150 trạm khí tượng, khí hậu và 500 trạm đo mưa phân bố trên phạm vi cả nước, chủ yếu là thời kỳ 1960-2000, một số yếu tố như nhiệt độ, mưa… của một số trạm có chuỗi số liệu dài hơn (1928-2000) cũng được khai thác, sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

Cuốn sách gồm 11 chương, chương 1 là tổng quan về khí hậu Việt Nam. Thông qua chương này, có thể hiểu khái quát về sự hình thành khí hậu Việt Nam, những đặc điểm chủ yếu của khí hậu thể hiện qua sự phân bố của các đặc trưng yếu tố khí hậu, sự phân hóa khí hậu và biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Chương này cũng đề cập đến sự phân định loại hình khí hậu Việt Nam trong phân loại khí hậu thế giới.

Các nhân tố hình thành khí hậu và chi phối khí hậu nước ta được trình bày trong 3 chương tiếp theo là hoàn cảnh địa lý, bức xạ mặt trời và hoàn lưu khí quyển. Đặc điểm của những nhân tố này là sự tương tác giữa chúng quyết định loại hình khí hậu Việt Nam, những tính chất cơ bản và những sắc thái riêng của khí hậu trong bối cảnh khí hậu khu vực và thế giới. Các chương tiếp theo phân tích, phân bố không gian và diễn biến thời gian của các yếu tố khí hậu như khí áp, gió, mây, nắng, nhiệt độ, mưa, ẩm… và một số hiện tượng thời tiết thường xảy ra như sương muối, sương mù, mưa phùn, dông, mưa đá, bão, hạn hán, mưa lớn.

Chương 10 là phân vùng khí hậu và đánh giá tài nguyên khí hậu các vùng lãnh thổ. Chương 11 phân tích dao động và biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong khoảng 100 năm qua, chú trọng đối với những yếu tố khí hậu cơ bản như nhiệt độ, lượng mưa và những hiện tượng thời tiết như bão, đánh giá, ước lượng biến đổi khí hậu trong thời gian tới ở Việt Nam.

Đánh giá về quyển sách này, GS Nguyễn Trọng Hiệu cho biết: “Đây là giáo trình chuẩn mực nhất về khí hậu Việt Nam. Có thể có nhiều nhận định về khí hậu Việt Nam nhưng đó là những nhận định chuẩn mực nhất. Nó có đầy đủ thông tin nhất, cô đọng, không tản mạn.

Việc tổng kết được phân vùng khí hậu Việt Nam là thành quả rất lớn. Cho đến bây giờ không phải ai cũng dễ dàng nhận thức được biến đổi khí hậu Việt Nam.Có người phân 3 miền, có người phân 4 miền nhưng chúng tôi phân 2 miền Nam - Bắc. Trong Nam có 3 vùng, miền Bắc có 4 vùng. Đấy là sự phân vùng chuẩn mực. Đến giờ, những tiêu chí phân vùng khí hậu người ta vẫn coi tiêu chí của chúng tôi là tiêu chí chuẩn mực.

Các địa phương đánh giá rằng có quyển này biết được vị trí của địa phương trong phân bố khí hậu Việt Nam. Từng ngành một biết được nhiệt độ, lượng mưa, chỉ số ẩm, nắng, gió... từng yếu tố một có vai trò thế nào trong khí hậu. Đặc biệt, cho đến giờ, những đánh giá của chúng tôi vẫn là đánh giá chuẩn xác, khách quan, có tình có lý”.

Bên cạnh đó, GS Nguyễn Trọng Hiệu còn là tác giả, đồng tác giả của nhiều cuốn sách khác: Phương pháp chuẩn bị thông tin khí hậu cho các ngành kinh tế quốc dân (viết chung với Nguyễn Đức Ngữ), Nxb Khoa học kỹ thuật, 1995; Giáo trình Khí hậu thống kê (viết chung với Hoàng Đức Cường), Nxb Khoa học tự nhiên và công nghệ, 2012; Gió mùa, hoàn lưu khí quyển trên khu vực Đông Á và Việt Nam (viết chung với Nguyễn Văn Thắng và Phạm Thị Thanh Hương), Nxb Khoa học tự nhiên và công nghệ, 2012.

Đằng sau dáng vóc nhỏ nhắn, tính tình hiền lành thì GS Nguyễn Trọng Hiệu được biết đến là một nhà khoa học với tư duy sắc sảo, tận tuỵ và trách nhiệm với các vấn đề thuộc lĩnh vực của mình. Những nghiên cứu và phát hiện có tính mở đầu của ông sẽ được thế hệ sau trân trọng, coi như tiền đề, cơ sở để tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong tương lai.

---------

[1] GS Nguyễn Trọng Hiệu, 24-3-2019, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

[2] GS Nguyễn Trọng Hiệu, 24-3-2019, đã dẫn.

[3] GS Nguyễn Trọng Hiệu, 24-3-2019, tài liệu đã dẫn.

[4] Tài liệu ghi âm GS Nguyễn Trọng Hiệu, 24-3-2019, tài liệu đã dẫn.

[5] Tài liệu ghi âm GS Nguyễn Trọng Hiệu, 24-3-2019, tài liệu đã dẫn.

Từ Sơn (Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam)

Tin đọc nhiều

Lò đốt chất thải công nghiệp đầu tiên của Việt Nam Lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại đầu tiên ở Việt Nam do...
PGS.TS Hồ Thị Thanh Vân: Người nâng tầm cho pin nhiên liệu Với niềm đam mê năng lượng tái tạo, PGS.TS Hồ Thị Thanh Vân...
Pin chết, vứt ở đâu? Tháng trước, sau khi thay pin đồng hồ, tôi băn khoăn không...
Chum, vại, lu... tái xuất Thời ấy công năng của lu là chứa, từ nước tới mắm tới tương...